Trụ sở chính: 35 đường số 3, Phường Tân Hưng, Quận 7, TP.Hồ Chí Minh

PHÂN BÓN NGỰA VÀNG- ĐẤT PHÌ NÔNG PHÁT

PHÂN BÓN NGỰA VÀNG- ĐẤT PHÌ NÔNG PHÁT

PHÂN BÓN NGỰA VÀNG – ĐẤT PHÌ NÔNG PHÁT

 Hoàng Quốc Việt

Ngành công nghiệp phân bón trên thế giới đã có sự phát triển vượt bậc qua 4 giai đoạn và đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực toàn cầu. Giai đoạn khởi đầu với super lân thương mại ra đời vào năm 1842 ở Anh, Kali vào năm 1861 và Urea vào năm 1922 ở Đức và sau đó là phân NPK vào năm 1930. Giai đoạn mở rộng diễn ra giữa những năm 1950 bằng việc tăng nhanh số nhà máy cũng như sản lượng ở hầu hết các nước phát triển. Giai đoạn trưởng thành bắt đầu từ những năm 1970 bằng việc ra đời hàng loạt các nhà máy phân bón NPK với công nghệ hiện đại hơn. Giai đoạn đổi mới diễn ra từ giữa những năm 1990 tới nay bằng việc ứng dụng các kỹ thuật mới và công nghệ tiên tiến để sản xuất ra những sản phẩm theo nhu cầu của từng cây trồng và giảm thiểu thất thoát gây ô nhiễm môi trường.

Phân NPK là phân có từ 2 thành phần đa lượng: đạm (N), lân (P), kali (K) trở lên và có thể được bổ sung thêm các chất trung lượng: can xi (Ca), magiê (Mg), lưu huỳnh (S) và vi lượng: kẽm (Zn), đồng (Cu), sắt (Fe), mangan (Mn), boron (B), clo (Cl), molypđen (Mo) hay silic (Si)… Phân NPK có ưu điểm là có nhiều tỷ lệ dinh dưỡng phù hợp với từng cây trồng, đặc điểm của đất đai và khí hậu từng vùng. Ở các nước phát triển, lượng phân NPK tiêu thụ hàng năm chiếm khoảng 50% tổng lượng phân sử dụng, trong khi ở các nước đang phát triển, tỷ lệ này thấp hơn song lại đang tăng nhanh. Mỹ là nước sử dụng phân NPK hàng đầu thế giới, sau đó là Brazil. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) NPK lại là loại phân rất thông dụng và cần thiết cho nông dân Mỹ. Năm 2000, ở Mỹ có tới 440 nhà máy sản xuất phân bón NPK, tập trung nhiều nhất ở Florida, sau tới Texas và New York. Theo Charles Formisan, công ty A. J. Saachett & Sons tại Maryland, Mỹ thì thời điểm năm 2005, tại Mỹ có tới 600 nhà máy sản xuất phân NPK với sản lượng gần 20 triệu tấn/năm. Tại Trung Quốc, nước sản xuất phân bón hàng đầu thế giới, trong số 1350 nhà máy sản xuất phân bón (năm 1998) có tới hàng ngàn nhà máy NPK. Năm 2003, tiêu thụ phân NPK tại Trung Quốc chiếm 25% tổng toàn bộ lượng phân tiêu thụ. Ở nước ta hiện có hàng trăm nhà máy và cơ sở sản xuất NPK với sản lượng ước đạt 2 triệu tấn/năm. Nếu tính cả lượng NPK nhập khẩu thì lượng tiêu thụ NPK chiếm khoảng 30% và vẫn đang gia tăng mỗi năm.

Phân NPK có 3 dạng: hỗn hợp bột đồng nhất (homogeneous mixtres); phân trộn (mixed hay bulk blends) và phân 1 hạt (compound). Phân hỗn hợp dạng bột có ưu điểm là đồng nhất, dễ tan nhưng khó bón và thất thoát nhiều nên chỉ thích hợp cho các cây trồng vào mùa khô và dùng để bón qua hệ thống tưới hoặc dùng để phun qua lá. Phân hỗn hợp trộn (3 màu) có nhược điểm là trộn thô từ phân đơn nên thành phần các hạt không đồng đều nhau, bón khó đều, lại thất thoát nhiều không khác gì phân đơn. NPK dạng 1 hạt có ưu điểm là dinh dưỡng phân bố đồng đều trong từng hạt phân, trong quá trình sản xuất các phản ứng hóa học có thể xảy ra tạo nên những phức chất giúp gia tăng hiệu quả với cây trồng và giảm thiểu thất thoát gây tác hại tới môi trường lại tiết kiệm chi phí cho nông dân. Sản xuất NPK dạng 1 hạt đòi hỏi phải đầu tư máy móc hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến nên chỉ có các nhà máy lớn mới làm được, trong khi các cơ sở nhỏ đang ra đời hàng loạt ở nước ta gần đây chỉ sản xuất NPK dạng trộn thô mang tính thủ công là chính do vậy chất lượng sản phẩm khó ổn định, hiệu quả với cây trồng khó bảo đảm. Ngày nay, với những ưu điểm nổi trội, phân NPK dạng 1 hạt đang là xu thế chung của ngành sản xuất phân bón trên thế giới và cả ở Việt Nam.

Hình ảnh : minh họa

Công nghệ sản xuất phân bón NPK trên thế giới đã có bước phát triển khá nhanh, nếu những năm 1950-1970, các nhà máy chủ yếu sử dụng chảo tạo hạt và trộn thô (mixed) để sản xuất NPK 3 màu thì ngày nay hầu hết đã tạo hạt bằng thùng quay hơi nước (drum) hoặc phương pháp hóa lỏng để tạo ra NPK dạng 1 hạt. Từ những năm 1990, phân NPK dạng 1 hạt ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Công nghệ NPK hóa lỏng đòi hỏi chi phí đầu tư nhiều và tiêu hao năng lượng lớn nên tuy chất lượng tốt, song giá thành sản phẩm lại cao, do vậy trên thế giới chỉ những nơi có lợi thế về nguyên liệu mới áp dụng công nghệ này. Một nghiên cứu của Trung tâm phát triển phân bón quốc tế (IFDC) năm 1981 cho thấy chi phí sản xuất theo phương pháp trộn thô sẽ giảm được 1 đô la Mỹ/tấn cho mỗi đơn vị dinh dưỡng so với tạo hạt bằng phương pháp hóa lỏng. Công nghệ “Nghiền – tạo hạt” cho sản phẩm tuy chất lượng không ổn định như phương pháp hóa lỏng song mức đầu tư thấp hơn nên nhiều doanh nghiệp ở nước ta đang áp dụng phương pháp này. Công nghệ phối hợp (hy-brid) giữa nguyên liệu dạng rắn nghiền mịn rồi kết hợp với một phần nguyên liệu hóa lỏng sẽ tạo nên sản phẩm đồng nhất hơn, chất lượng ổn định hơn và giá thành cũng hợp lý hơn. Tuy vậy công nghệ này đòi hỏi đầu tư khá cao nên chỉ có những doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, có định hướng làm ăn lâu dài mới áp dụng được. Sử dụng công nghệ kết hợp này có thể tạo được sản phẩm NPK 1 hạt với thành phần dinh dưỡng rất cao và chất lượng ổn định. Hiện tại ở Việt Nam, Công ty Cổ phần Sinh học Thế Kỷ là 1 trong số ít Nhà máy phân bón áp dụng công nghệ này và sản xuất được NPK 18-8-20+TE và NPK 20-20-15+TE dạng 1 hạt.

Một trong những yếu tố giúp cho hiệu quả của NPK cao hơn so phân đơn và tiêu thụ NPK trên thế giới ngày càng tăng là do việc bổ sung các nguyên tố dinh dưỡng trung vi lượng và các chất chống bay hơi, rửa trôi gây thất thoát dinh dưỡng hay các chất giúp dinh dưỡng phóng thích từ từ. Ngày nay do thâm canh tăng năng suất, tăng vụ nên dinh dưỡng trung, vi lượng trong đất ngày càng cạn kiệt, do đó các chủng loại NPK+TE càng tỏ ra có hiệu lực vượt trội hơn so với phân đơn và NPK không có TE. Ở Việt Nam, mặc dù NPK+TE có giá cao hơn so với NPK thường nhưng nông dân vẫn tin dùng và ngày càng tiêu thụ nhiều hơn.

Đón bắt được xu hướng phát triển của ngành công nghiệp phân bón NPK thế giới, Công ty Cổ phần Sinh học Thế Kỷ đã đầu tư 1 nhà máy sản xuất phân bón NPK tại Bình Phước và 1 nhà máy tại Long An với công nghệ hiện đại nhất hiện nay nên có thể sản xuất được các sản phẩm NPK dạng 1 hạt với hàm lượng cao mà ít nhà máy khác có thể làm được như NPK 20-20-15+TE,  NPK 18-8-20+TE… Ngoài ra các sản phẩm PHÂN BÓN NGỰA VÀNG đều được bổ sung các nguyên tố trung vi lượng thiết yếu với thành phần và tỷ lệ thích hợp cho từng loại cây trồng, cho từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau. Các tiến bộ kỹ thuật mới như tạo lớp màng phủ Na-carboxymethylcellulose; dicyclopentadiene, glycerol ester, Neem oil, Avail,… ( tổ hợp các hoạt chất đặc hiệu – SM ) giúp dinh dưỡng phóng thích từ từ, giảm thất thoát, giúp tiết kiệm phân bón cũng đang được đưa vào phân bón Ngựa Vàng. Tất cả những điều này lý giải vì sao phân bón Ngựa Vàng có hiệu quả vượt trội hơn so với các loại phân bón khác. Cùng với máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại, Công ty Cổ phần Sinh học Thế Kỷ đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 : 2015 và hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn nên chất lượng phân bón Ngựa Vàng rất cao và luôn ổn định, đồng thời giá thành cạnh tranh và chính sách hậu mãi chu đáo. Với tinh thần tất cả vì nông dân, phân bón Ngựa Vàng đã xây dựng được Hội đồng khoa học kỹ thuật gồm các chuyên gia đầu ngành của Việt Nam, chuyên gia nước ngoài và có đội ngũ cán bộ kỹ thuật giàu kinh nghiệm, tâm huyết luôn sẵn sàng hỗ trợ nông dân bất cứ nơi đâu và khi nào nông dân cần đến. PHÂN BÓN NGỰA VÀNG không chỉ sản xuất ra các loại phân bón chất lượng cao nhất mà còn đem tới cho nông dân giải pháp canh tác hiệu quả nhất thông qua sản phẩm tốt và qui trình tối ưu trong thâm canh cây trồng để đem lại những vụ mùa bội thu và luôn gia tăng được độ phì nhiêu của đất.

Để lại bình luận





Hotline : 0911 80 60 39